Nam Moâ A Di Ñaø Phaät
Laø taùnh ñöùc cuûa töï taùnh

tinhdotong.vn

HẾT THẢY CÁC TƯỚNG CẢNH GIỚI ĐỀU DO TỰ TÂM HIỆN, DO BỐN THỨC BIẾN

HẾT THẢY CÁC TƯỚNG CẢNH

GIỚI ĐỀU DO TỰ TÂM HIỆN,

DO BỐN THỨC BIẾN

Giảng giải: Pháp Sư Tịnh Không

 

Tâm nhãn đắc khai, liễu liễu phân minh kiến Cực Lạc quốc thất bảo trang nghiêm, bảo địa, bảo trì, bảo thụ hàng liệt. Chư thiên bảo mạn di phú kỳ thượng, chúng bảo la võng mãn hư không trung. Kiến như thử sự, cực linh minh liễu, như quán chưởng trung.

Tâm nhãn mở mang, thấy rành rẽ, phân minh cõi Cực Lạc Trang Nghiêm bằng bảy báu, đất báu, ao báu, cây báu bày thành hàng. Các màn cõi Trời phủ kín bên trên. Các lưới mành báu giăng khắp hư không. Thấy sự như vậy sao cho hết sức rõ rệt như nhìn vào bàn tay.

Cổ đức nói cảnh giới vi tế như vậy đều từ nhất tâm diệu quán dần dần chuyển sanh, nên sẽ thấy cảnh giới ngày càng rõ rệt, càng thấy càng hiểu rõ.

Ở chỗ này, phải đặc biệt chú ý:

Thật sự quan sát, hiểu rõ, thật ra là do chân tâm rất thanh tịnh. Nay chúng ta nói tới Quán Tưởng Niệm Phật. Đối với phép Quán này, tông Thiên Thai đề ra Thứ Đệ Tam Quán và Nhất Tâm Tam Quán.

Tông Thiên Thai đề xướng như vậy vì thuở trước, Trí Giả Đại Sư lập ra phương pháp tu hành Tam Chỉ Tam Quán, phương pháp ấy do Trí Giả Đại Sư phát minh. Các Cao Tăng Ấn Độ đến Trung Hoa bái phỏng Trí Giả Đại Sư, Trí Giả Đại Sư kể với họ phương pháp tu hành của chính Ngài, các Pháp Sư Ấn Độ bội phục khôn cùng.

Họ nói với Trí Giả Đại Sư:

Ở phương Tây Ấn Độ có Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, phương pháp tu học được giảng trong Kinh ấy hết sức tương tự, rất gần gũi với pháp Tam Chỉ, Tam Quán của Tông Thiên Thai. Kinh Lăng Nghiêm dạy Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na.

Vì lẽ đó, Thiên Thai Đại Sư dựng một đài bái Kinh tại núi Thiên Thai, hằng ngày hướng về phía Tây lễ bái, mong mỏi Kinh ấy truyền sang Trung Hoa. Lạy suốt mười tám năm, Trí Giả Đại Sư Viên Tịch, Kinh ấy vẫn chưa truyền tới Trung Hoa. Nhưng về sau, Ngài Bát Lạt Mật Đế đem Kinh ấy đến Trung Hoa.

Kinh ấy ở Ấn Độ được gọi là quốc bảo, bất cứ Kinh Điển nào cũng đều có thể lưu thông sang ngoại quốc, nhưng Kinh Điển này Kinh Lăng Nghiêm chẳng thể lưu thông tại ngoại quốc. Đấy là do người Ấn Độ tiếc Pháp, nên hiện thời tại Ấn Độ chẳng có Phật Pháp, quả báo do tiếc Pháp đấy.

Pháp Sư Bát Lạt Mật Đế mang Kinh ấy tới nơi đây Trung Hoa, hải quan tra xét rất nghiêm, lén đem vài lần đều chẳng thành công. Cuối cùng, Ngài rạch mu bàn tay, giấu bổn Kinh đã được chép với khổ chữ rất nhỏ vào trong đó, chờ cho đến khi miệng vết thương hoàn toàn lành lặn, đem Kinh đến Trung Hoa như vậy.

Đem đến Trung Hoa, bèn mổ mu bàn tay, lấy Kinh ra, Kinh Lăng Nghiêm được truyền tới Trung Hoa như vậy đó. Thuở đầu, chú giải Kinh, do bị ảnh hưởng bởi lời nhận định của các vị Pháp Sư Ấn Độ, nên đều dùng Pháp Chỉ Quán của tông Thiên Thai để giải thích Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na.

Mãi cho đến đời Minh, Giao Quang Đại Sư mới không dùng phương pháp ấy, trực tiếp dùng cách nói trong Kinh Lăng Nghiêm, đề xướng bỏ Thức dùng Căn, hết sức phù hợp ý nghĩa của Kinh.

Chúng ta đọc thấy trong lời tựa cho bản Chú Giải, Pháp Sư Giao Quang có nói Ngài niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Lúc lâm chung, khi A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, A Di Đà Phật đứng trên không trung tiếp dẫn Ngài Vãng Sanh, Ngài xin A Di Đà Phật cho hoãn lại.

Ngài nói chú giải Kinh Lăng Nghiêm từ xưa tới nay chẳng nêu rõ ý nghĩa trong Kinh, những lời mi chú  cũng chẳng giảng rõ ràng, Ngài xin A Di Đà Phật cho phép Ngài khoan Vãng Sanh để chú giải Kinh Lăng Nghiêm. Sau khi chú giải xong xuôi sẽ Vãng Sanh. A Di Đà Phật cũng chấp thuận, cho phép Ngài được ở lại, Ngài trụ thế để soạn chú giải.

Ngài nêu ra nguyên nhân ở chỗ nào?

Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai đều dùng ý thức, Nhất Tâm Tam Quán cũng không ra ngoài lệ ấy. Kinh Lăng Nghiêm nói hoàn toàn chẳng dùng tâm ý thức, trong chú giải, Pháp Sư Giao Quang đã nói rõ ràng.

Bản chú giải của Ngài được gọi là Tân Sớ. Do đó, chú giải Lăng Nghiêm có hai phái tân và cựu. Cựu phái dùng Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai để giải thích Kinh, tân phái không dùng Tam Chỉ Tam Quán, mà dùng bỏ Thức dùng Căn như Pháp Sư Giao Quang đã nói, không dùng tâm ý thức.

Bản sớ giải Kinh này do Thiên Thai Đại Sư chú giải, Ngài dùng Tam Chỉ Tam Quán. Nói cách khác, vẫn dùng tâm ý thức. Dùng tâm ý thức chánh xác, dùng tâm ấy để tu hành, theo như Kinh Lăng Nghiêm đã dạy, sẽ có thể chứng đắc quả A La Hán, có thể chứng đắc quả vị Bích Chi Phật.

Nói cách khác, nói theo Tịnh Tông, xác thực là có thể tu đạt đến Sự nhất tâm bất loạn, có thể đạt đến cảnh giới này. Trong sự nhất tâm bất loạn, đại khái là đối với những cảnh giới như Kinh đã nói đều có thể thành tựu, có thể thành tựu phép quán tưởng này.

Nếu muốn đạt tới thành tựu viên mãn thật sự, ắt phải là Lý nhất tâm bất loạn thì mới thật sự thấy. Chúng ta phải nên hiểu điều này.

Đức Phật dạy chúng ta một nguyên tắc là y Pháp, bất y nhân, Pháp là Kinh Điển, còn chú sớ chỉ là tài liệu tham khảo do cổ Đại Đức trao cho chúng ta để tu học mà thôi.

Chúng ta dùng những nhận định của các Ngài như tài liệu tham khảo thì là chánh xác, cũng đừng nên hoàn toàn chấp chết cứng vào lời chú giải. Hễ chấp chết cứng thì sai mất rồi, nhất định phải nương vào Kinh. Chúng ta lại xem đoạn thứ hai là Quán Bồ Tát.

Kiến thử sự dĩ, phục đương cánh tác nhất đại liên hoa, tại Phật tả biên, như tiền liên hoa, đẳng vô hữu dị. Phục tác nhất đại liên hoa, tại Phật hữu biên, tưởng nhất Quán Thế Âm Bồ Tát tượng, tọa tả hoa tòa, diệc tác kim sắc, như tiền vô dị, tưởng nhất Đại Thế Chí Bồ Tát tượng, tọa hữu hoa tòa.

Đã thấy sự ấy rồi, lại nên tưởng một hoa sen to ở bên trái Đức Phật, giống như hoa sen trên đây trọn chẳng khác gì. Lại tưởng một hoa sen to, ở bên phải Đức Phật. Tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi trên hoa tòa bên trái, cũng là thân vàng ròng, giống như trước chẳng khác. Tưởng một tượng Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi trên hoa tòa bên phải.

Hoa đài và tòa sen hoàn toàn giống nhau, Phật và Bồ Tát đều có hoa đài và hoa sen giống hệt nhau. Chính giữa là A Di Đà Phật, bên trái, tức phía bên tay trái của A Di Đà Phật, là Quán Thế Âm Bồ Tát. Phía bên tay phải là Đại Thế Chí Bồ Tát. Trong chú giải, có những câu rất thú vị.

Chú giải giảng:

Tam Thánh thiết hóa, động tĩnh tất câu. Tam Thánh hóa hiện như thế, động hay tĩnh ắt đều như một, câu là tuy một mà ba, tuy ba mà một. Nhất chủ nhị Thần, phi tịnh, phi biệt, biểu hồ tam pháp, tam diệu dung.

Chân thân ký nhiên, tượng hợp tương tự, quán nhị túc Phật, linh diệu quán thành tam. Một vị chủ tể, hai vị bầy tôi, chẳng phải giống hệt như nhau, chẳng phải là khác nhau, biểu thị ba pháp, ba sự dung thông mầu nhiệm.

Chân thân đã là như thế thì hình tượng được biến hiện cũng phải giống như thế. Quán Đức Phật phước huệ trọn đủ, khiến cho phép quán mầu nhiệm một mình Đức Phật trở thành quán cả ba vị. Đây là quán Tây Phương Tam Thánh.

Theo cách biểu thị pháp thông thường, Phật biểu thị Pháp Tánh, biểu thị Chân Như bản tánh. Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi tác dụng, là tác dụng của tự tánh. Tác dụng của tự tánh là vô lượng vô biên. Vô lượng vô biên đức dụng có thể quy nạp thành hai loại lớn, một là Trí, hai là Hạnh, trong Phật Pháp nói là Giải Hạnh, Giải thuộc về trí huệ, Hạnh thuộc về sự hành trì trong cuộc sống.

Đây là hai vị đại Bồ Tát. Vì thế, chúng ta thờ tượng Phật nhất định là một vị Phật hai vị Bồ Tát, chẳng thờ thành ba vị Bồ Tát, hay bốn vị Bồ Tát, chẳng thờ theo cách như vậy, vì các Ngài biểu thị ý nghĩa viên mãn trọn đủ về mặt pháp. Trong Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ Tát đại biểu Hạnh. Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn, nên tượng trưng cho Hạnh môn.

Đại Thế Chí Bồ Tát đại biểu Giải môn, biểu thị trí huệ, chỉ có trí huệ mới là thế lực chân chánh, thật sự hữu lực. Vì thế, từ bi nhất định phải lấy trí huệ làm cơ sở, đó mới là lòng từ bi thuận tánh. Nếu chẳng có trí, lòng từ bi ấy sẽ được gọi là lạm từ bi lòng từ bi luông tuồng, sẽ có ảnh hưởng bất thiện, đâm ra chẳng tốt đẹp.

Phật môn thường nói:

Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Phật Pháp hết sức coi trọng đại từ đại bi và thiện xảo phương tiện.

Nhưng người đời sau cũng nói:

Từ bi lắm họa hại, phương tiện thành hạ lưu, do nguyên nhân nào?

Đánh mất trí huệ. Lòng từ bi thiếu trí huệ và phương tiện thiếu trí huệ đều hỏng. Có thể nói là Phật Pháp hiện thời suy vi đến nông nỗi này là vì bỏ mất lý trí, một mực mù quáng dùng lòng từ bi bừa bãi.

Chúng ta biết nghĩa thú của việc thờ phụng tượng Phật, nói thật ra thì một chính là ba, ba chính là một, biểu thị nhất Thể. Tiếp theo đây, chúng ta lại xem phần Tượng Phóng Quang, tượng Phật và Bồ Tát tỏa quang minh.

Thử tưởng thành thời, Phật, Bồ Tát tượng giai phóng quang minh. Kỳ quang kim sắc, chiếu chư bảo thụ. Nhất nhất thụ hạ, diệc hữu tam liên hoa. Chư liên hoa thượng, các hữu nhất Phật, nhị Bồ Tát tượng, biến mãn bỉ quốc.

Khi phép quán tưởng này đã thành, lại tưởng tượng Phật và Bồ Tát đều phóng quang minh. Quang minh ấy sắc vàng, chiếu các cây báu. Dưới mỗi cội cây, cũng có ba hoa sen. Trên các hoa sen đều có hình tượng một vị Phật và hai vị Bồ Tát trọn khắp cõi ấy. Đoạn này rất quan trọng mà cũng rất dễ nhớ.

Vì chúng ta thường suy nghĩ:

Tây Phương Cực Lạc Thế Giới to ngần ấy, người đông dường ấy, làm sao chúng ta có thể thấy Phật cho được?

Đều rất hoài nghi. Chẳng cần nói chi khác, Đài Loan chẳng lớn, thành phố Đài Bắc càng bé.

Thành phố Đài Bắc có hơn hai trăm vạn thị dân, mỗi người chúng ta hằng ngày đều có thể gặp Tổng Thống hay chăng?

Đều chẳng gặp được.

Người trong Tây Phương Cực Lạc Thế Giới không ai có thể tính nổi số, đông ngần ấy, làm sao chúng ta có thể gặp A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí hằng ngày?

Xem đoạn Kinh Văn này mới biết, vốn là Phật, Bồ Tát hóa thân. Dưới mỗi cây báu đều có Tây Phương Tam Thánh. Số lượng Tây Phương Tam Thánh và số người bên ấy bằng nhau.

Do đó, mỗi người hằng ngày đều thấy Phật, mỗi ngày đều chẳng lìa Phật, tốt lắm. Trong mười phương Thế Giới, chúng ta chưa hề thấy cảnh giới này, các Kinh khác chưa hề nói như thế, chỉ riêng Thế Giới Tây Phương là hóa thân của Di Đà, Quán Âm, Thế Chí đầy khắp nước ấy.

Do đó, đến Thế Giới Tây Phương, sẽ thường ở cùng một chỗ với A Di Đà Phật, cùng Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, các vị đại Bồ Tát gặp mặt hằng ngày. Mỗi ngày đều ở chung với nhau, hóa thân của các Ngài trọn khắp cõi Phật.

Chúng ta xem phần chú giải cho đoạn này trong trang một trăm tám mươi chín, xem từ câu thứ ba trong hàng thứ tư từ dưới đếm lên: Phật chi thân tòa, Bồ Tát thân tòa, tam vô sai biệt, nghĩa là thân và tòa của Bồ Tát hoàn toàn giống như thân và tòa của Phật, đúng như Kinh Vô Lượng Thọ đã nói.

Duy thủ tướng các bất đồng nhĩ, nghĩa là chỉ có hình tướng nơi đầu là trông thấy khác nhau. Phật duy nhục kế, bất đới hoa quan Phật chỉ có nhục kế, chẳng đội mão hoa.

Trên đầu Đức Phật là tướng nhục kế. Nhị Đại Sĩ tuy đồng đới hoa quan, nghĩa là Quán Âm và Thế Chí đều cùng đội mão. Mão ấy, tức hoa quan giống nhau, chỉ có một điểm khác nhau. Giữa mão của Quán Âm Bồ Tát là một bức tượng Phật. Bức tượng Phật ấy là tượng đứng, hóa Phật đứng.

Một hôm, có người chụp một tượng bức tượng Quán Âm, tượng Phật trên mão đội đầu của Ngài là tượng ngồi tĩnh tọa, tôi nói:

Không đúng. Đây chẳng phải là Quán Âm Bồ Tát, tượng Phật trong mão Quán Âm Bồ Tát là tượng đứng.

Tôi nói:

Đây là Bồ Tát nào tôi không biết. Nếu quý vị bảo là Quán Âm thì là Quán Âm giả mạo, chẳng phải là Quán Âm thật sự. Cũng phải chú ý điều này. Chính giữa mão của Đại Thế Chí Bồ Tát là một cái bình báu, cũng là bình báu đặt thẳng đứng. Đó là chỗ khác nhau.

Trừ điều đó ra, hoàn toàn giống nhau. Điều này giống như phần bốn mươi tám nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ đã nói.

Chúng ta lại lật sang trang kế tiếp, xem Kinh Văn:

Thử tưởng thành thời, hành giả đương văn thủy lưu quang minh, cập chư bảo thụ, phù, nhạn, uyên ương, giai thuyết diệu pháp. Xuất Định, nhập Định, hằng văn Diệu Pháp. Hành giả sở văn, xuất Định chi thời, ức trì bất xả, linh dữ Tu Đa La hợp. Nhược bất hợp giả, danh vi vọng tưởng. Nhược dữ hợp giả, danh vi thô tưởng kiến Cực Lạc Thế Giới. Thị vi Tượng Tưởng, danh đệ bát Quán.

Khi phép quán tưởng này thành tựu, hành giả sẽ nghe nước chảy, quang minh, và các cây báu, le, nhạn, uyên ương đều nói Diệu Pháp. Xuất Định, nhập Định, luôn nghe Diệu Pháp.

Những điều hành giả nghe được khi xuất Định bèn nhớ giữ chẳng bỏ. Phải sao cho hợp với Tu Đa La. Nếu chẳng hợp thì là vọng tưởng. Nếu phù hợp, bèn gọi là quán tưởng thấy Thế Giới Cực Lạc về phần thô. Đây là Tượng Tưởng, được gọi là phép Quán thứ tám.

Đoạn Kinh Văn này nói rõ:

Trong khi quán tưởng, bèn nghe pháp. Nước chảy, quang minh, cây báu là vô tình thuyết pháp, các loài chim như le, nhạn… là hữu tình thuyết pháp. Tình và vô tình không gì chẳng nói Pháp, từ đoạn Kinh Văn này, chúng ta đã thấy điều đó.

Người tu hành bất luận là trong Định, nhập Định hay xuất Định thảy đều nghe thấy. Như trong phép quán tưởng ở phần trước, mở mắt hay nhắm mắt, tượng ấy đều hiện tiền.

Ở đây nói, trong Định, hoặc chẳng phải ở trong Định, đều nghe âm thanh. Nhưng những gì quý vị nghe được nhất định phải tương ứng với Kinh. Nếu chẳng tương ứng, sẽ là vọng tưởng. Nếu tương ứng thì là thô kiến, tức là thấy Thế Giới Cực Lạc ở mức độ thô thiển. Phải phân biệt rõ ràng chuyện này, chớ nên coi ma cảnh như Phật cảnh.

Do đó, đối với người học Phật chúng ta, Kinh Điển có hai cách sử dụng:

Cách sử dụng thứ nhất là dạy chúng ta phương pháp tu hành. Chúng ta cũng chẳng biết tu như thế nào thì trong Kinh Điển có lý luận, có phương pháp, có cảnh giới, dạy cho chúng ta những điều ấy.

Cách sử dụng thứ hai là khi chúng ta tu đến một cảnh giới kha khá, nó sẽ chứng minh cho chúng ta. Đến khi chúng ta tu thành tựu, phải đối chiếu cảnh giới chúng ta đã thấy với Kinh Điển, để coi là giống nhau hay sai khác.

Ví như chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc Thế Giới thì chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc Thế Giới có giống như Kinh đã nói hay không?

Nếu hoàn toàn giống hệt, đó là thấy Thế Giới Tây Phương chân thật. Nếu chẳng giống, vậy là không đúng rồi, giả mất rồi. Điều này rất quan trọng. Kinh Luận thường nói Phật Phật đạo đồng, hết thảy Chư Phật chắc chắn phải nói các Kinh giống như nhau. Chỗ có thể bất đồng là ngôn ngữ, có thể nói là cũng có đôi chút bất đồng về phương diện đó, nhưng chắc chắn là nội dung giảng nói phải giống nhau.

Vì sao?

Đó là cảnh giới do Chư Phật đích thân chứng đắc, há có lẽ nào chẳng giống nhau?

Đối với những chỗ giống như thế này chúng ta phải lưu ý hơn. Trong Thế Giới hiện thời, giả Phật quá nhiều. Kinh Điển ngụy tạo cũng rất nhiều, rất dễ bị lừa gạt. Kẻ gặp ma sự quá đông, gần như mỗi tuần đều có mấy người đến kiếm tôi. Nói thật ra, bị ma dựa, đến kiếm tôi, tôi chẳng có cách nào hết.

Tôi chẳng có Thần thông, tôi chẳng cùng quỷ Thần qua lại. Bị ma dựa, phải tìm đến những người có qua lại với quỷ Thần, có lẽ họ cũng có cách điều giải cho quý vị. Nhưng điều giải cũng có hạn độ, cũng tùy thuộc vào duyên phận. Vì thế, tôi khuyên các đồng tu hãy thật thà, chân thật niệm Phật, càng ít qua lại với quỷ Thần càng hay.

Vì sao?

Chúng ta là phàm phu, chớ nên chèo kéo họ.

Đối với quỷ Thần, tục ngữ có câu:

Thỉnh Thần dung dị, tống Thần nan.

Ý nói quý vị tìm tới họ rất dễ dàng, sau đó, quý vị làm thế nào để tiễn họ đi?

Chuyện này rất phiền phức. Nếu họ không đi, sẽ đem lại cho quý vị lắm nỗi phiền phức. Vì thế, tốt nhất là giao du với Quỷ Thần càng ít càng hay. Chúng ta chẳng mong qua lại với họ, họ cũng chẳng tìm đến chúng ta. Chúng ta ham Thần thông, thích cúng dường Quỷ Thần, thích lui tới với họ, họ cảm thấy quý vị cũng được lắm, chúng ta là bạn tốt với nhau, kết thành bằng hữu. Phải chú ý điều này.

Niệm chú, trong chú có nhiều danh hiệu quỷ Thần, quý vị niệm chú tức là triệu thỉnh họ đến, sau đó niệm như thế nào để tiễn họ đi?

Quý vị muốn niệm chú Lăng Nghiêm, niệm chú Đại Bi, chú ngữ thật sự là mấy câu cuối cùng, từ chữ đát điệt tha tadyathā  trở đi là chú ngữ, chú ngữ thật sự chỉ có mấy câu ấy.

Những câu trước đó đều là danh hiệu quỷ Thần, gọi từng người trong bọn họ đến, đã gọi đến rồi chẳng thể tiễn họ đi trọn vẹn, sẽ rất phiền phức. Thời cổ, những bậc Đại Đức thật sự có đạo hạnh, hằng ngày dùng chú ngữ để thí thực, cúng dường quỷ Thần, thật sự đạt được lợi ích.

Tâm chúng ta chẳng thanh tịnh, chẳng có đạo hạnh, học bài chú ấy, thỉnh vời quỷ Thần đến. Quỷ Thần thấy quý vị chẳng có đạo đức, cũng chẳng có tu trì chi hết, bèn coi thường quý vị. Coi thường quý vị thì quỷ Thần tốt sẽ bỏ đi rồi thôi, không đếm xỉa tới quý vị.

***