Nam Moâ A Di Ñaø Phaät
Laø taùnh ñöùc cuûa töï taùnh

tinhdotong.vn

THỜI CỔ, CHÙA CHIỀN CÓ CỐNG HIẾN VÔ CÙNG TO LỚN ĐỐI VỚI XÃ HỘI, THAY QUỐC GIA ĐÀO TẠO BAO NHIÊU NHÂN TÀI

THỜI CỔ, CHÙA CHIỀN CÓ CỐNG HIẾN

VÔ CÙNG TO LỚN ĐỐI VỚI XÃ HỘI,

THAY QUỐC GIA ĐÀO TẠO

BAO NHIÊU NHÂN TÀI

Trích Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa

Giảng giải: Pháp Sư Tịnh Không

 

Người không có tiền, chùa chiền vẫn chiếu cố quý vị. Quý vị thấy Phạm Trọng Yêm cả đời đọc sách trong chùa, nhà rất nghèo túng, vì thế, sống trong chùa tự lo liệu ăn uống.

Mỗi ngày, ông ta nấu một nồi cháo, nấu đặc một chút, chia thành bốn phần, để sống hết ngày. Học hành tốt đẹp, quý vị thấy về sau ông ta thi đỗ, công danh thành tựu, xuất tướng nhập tướng, cảm niệm nhà chùa đã thành tựu cho ông ta.

Nếu không, ông ta đến đâu để học hành?

Vì thế, thời cổ, Chùa Chiền có cống hiến vô cùng to lớn đối với xã hội, thay quốc gia đào tạo bao nhiêu nhân tài.

Chúng ta chớ nên không thông hiểu những chuyện lịch sử này.

Trước đây, chùa chiền là trường học, chẳng có Kinh Sám Phật Sự. Danh xưng của chấp sự trong chùa chiền cho đến nay vẫn giữ nguyên, nhưng đã biến chất.

Trụ Trì, Phương Trượng của tự viện là chức vị gì?

Hiệu Trưởng. Thủ Tọa Hòa Thượng là Giáo Vụ Trưởng, Duy Na là Huấn Đạo Trưởng, Giám Viện là Tổng Vụ Trưởng.

Quý vị thấy có giống như phân công trong nhà trường hiện thời hay không?

Trong một ngôi chùa, có vài vị Thủ Tọa Hòa Thượng, chẳng phải là một, chia thành các giảng tòa giảng Kinh. Điện đường là phòng học, Pháp Sư giảng Kinh rất nhiều, chẳng phải là một, giống như trường học, chia thành lớp, nhưng trong mỗi lớp đều là thâm nhập một môn, huân tu lâu dài.

Giảng đường này giảng Kinh Hoa Nghiêm, giảng đường kia giảng Kinh Pháp Hoa, giảng đường khác giảng Kinh Vô Lượng Thọ, quý vị muốn học gì bèn vào giảng đường đó. Quý vị chỉ có thể học một môn, chẳng thể học hai môn.

Vì thế, trước đây nói là Đến tự viện, viết thảo Kinh đơn, tức là đến nơi ấy ghi danh xin học một bộ Kinh nào đó, giảng đường giảng bộ Kinh ấy sẽ cho quý vị một chỗ ngồi, ký túc xá cho quý vị một cái giường, để quý vị có thể an tâm học tập ở nơi đó. Kỳ hạn là một bộ Kinh, quý vị học xong một bộ Kinh có thể rời khỏi.

Nếu muốn học thêm một bộ nữa, lại ghi danh tiếp, học tiếp một bộ, nhưng thông thường, một bộ Kinh phải giảng mấy tháng. Kinh dài phải mất một hai năm.

Nhà chùa đúng là một trường học, cớ sao biến thành tình trạng như hiện thời?

Thuở ấy, tôi học Phật cũng cảm thấy rất kỳ quái, bèn hỏi lão Hòa Thượng. Lúc đó, tôi theo lão hòa thượng Đạo An ở Đài Loan, Ngài rất quan tâm đến tôi, tuổi Ngài cũng đã rất cao.

Tôi thỉnh giáo Ngài, tôi nói Kinh sám Phật Sự vì sao mà có?

Do ai làm?

Ngài suy nghĩ, rồi nói:

Rất có thể là do Đường Minh Hoàng làm.

Ngài cũng có căn cứ, vì thời Đường Minh Hoàng gặp phải loạn An Sử, tức là An Lộc Sơn tạo phản, do Dương Quý Phi dẫn khởi. Cuộc bạo loạn ấy khiến cho nhà Đường gần mất ngôi, may mắn là được một nhóm người như Quách Tử Nghi dẹp yên cơn biến loạn ấy.

Sau khi yên ổn, tại mỗi nơi chiến trường, Đường Minh Hoàng dựng một ngôi chùa, đặt tên là chùa Khai Nguyên, vì cuộc động loạn xảy ra trong niên hiệu Khai Nguyên.

Mỗi địa phương dựng một ngôi Khai Nguyên Tự, dựng chùa nhằm truy điệu quân dân tử nạn. Đó là khởi đầu, mang tánh chất kỷ niệm giống như Trung Liệt Từ, thỉnh các vị Xuất Gia tụng Kinh siêu độ, hồi hướng cho họ.

Quốc Gia làm như vậy, nên trong dân gian, người già qua đời, cũng thỉnh Pháp Sư đến niệm Kinh. Đương nhiên đó là ngẫu nhiên, có thể thỉnh Pháp Sư về nhà niệm Kinh, nhất định đều là những vị quý nhân hay quan chức hiển đạt, chẳng phải là bình dân.

Người Xuất Gia làm chuyện này là kèm thêm, thỉnh thoảng làm kèm thêm. Pháp Sư Đạo An bảo tôi, có thể đó là khởi đầu, vì trước đó, chưa hề nghe nói tới chuyện tăng sĩ làm Kinh sám Phật Sự.

Tôi nghĩ:

Thật sự biến thành tình hình như hiện tại là do Từ Hy, Từ Hy Thái Hậu tạo oan nghiệt. Dưới đời nhà Thanh trước kia, đế vương thường lễ thỉnh học giả Nho, Thích, Đạo giảng học trong hoàng cung.

Hoàng Thượng dẫn phi tần, văn võ bá quan đến nghe giảng, chế độ này mãi cho đến đời Hàm Phong vẫn còn hoàng đế Hàm Phong là chồng của Từ Hy Thái Hậu, vẫn còn gìn giữ. Giảng nghĩa trong cung đình, giảng nghĩa Nho, Thích, Đạo.

Họ đặc biệt tôn trọng Phật Pháp, nhưng giảng nghĩa Phật Pháp không bảo lưu trong Tứ Khố, giảng nghĩa của Nho Gia và Đạo Gia đều có trong Tứ Khố Toàn Thư. Đôi khi, tôi mở bộ Tứ Khố ra xem, coi cách giảng trong hoàng cung của người thuở trước rốt cuộc là như thế nào.

Giảng Tứ Thư theo cách nào?

Giảng Ngũ Kinh theo cách nào?

Những bản giảng nghĩa ấy vẫn còn tồn tại, nhưng đối với Phật Pháp, bèn đặc biệt biên tập một bộ Đại Tạng Kinh, gọi là Càn Long Đại Tạng Kinh, không xếp những bài giảng Kinh Phật vào Tứ Khố, đó là đặc biệt tôn trọng Phật Pháp.

Do lịch đại Đế Vương đều là đệ tử Tam Bảo, những vị Đại Đức thuộc hàng đức cao vọng trọng đều phong làm Quốc Sư. Triều đình nhà Thanh làm như vậy đó.

Sau khi Hàm Phong qua đời, con còn rất nhỏ, con trai Từ Hy Thái Hậu làm tiểu hoàng đế, quyền lực triều chánh lọt vào tay bà ta, thùy liêm thính chánh.

Cho nên con trai bà ta có niên hiệu là Đồng Trị, tức là bà ta và con trai cùng trị vì quốc gia, phiền phức khá lớn. Bà ta tin tưởng quỷ thần, bãi bỏ chuyện thỉnh Đại Đức giảng học trong cung đình, điều này có ảnh hưởng quá lớn đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Vì sao văn hóa truyền thống hiện thời suy vi đến nỗi này?

Đầu sỏ là Từ Hy Thái Hậu, tin tưởng cầu cơ, chẳng tin Kinh Điển, cũng chẳng nghe lời, tin tưởng các vị cao tăng Đại Đức. Bà ta cầu cơ phù loan, kết quả là quốc gia tiêu vong từ đó.

Thuở tôi còn trẻ, Chương Gia Đại Sư kể cho tôi nghe chuyện này. Chương Gia đời trước là Quốc Sư của Từ Hy Thái Hậu, toàn là hữu danh vô thực, bà ta cũng chẳng hỏi ý Ngài. Trong quá khứ, hễ thật sự gặp đại sự nghi nan, đế vương bèn hỏi ý kiến các vị Đại Đức, tức các vị Đại Đức Nho, Thích, Đạo, họ cũng giống như cố vấn của hoàng thượng.

Từ Hy Thái Hậu rất tôn trọng họ, nhưng chẳng nghe lời, mà nghe theo quỷ thần. Vì vậy, Phật Giáo Trung Quốc phải là hoàn toàn bị biến chất vào lúc ấy.

Hiện thời, tự viện am đường Phật Giáo nhìn không ra diện mục giáo học của Thích Ca Mâu Ni Phật, hoàn toàn chẳng nhìn thấy, Phật Giáo bị biến thành mê tín.

Hơn nữa, trong Tôn Giáo, Phật Giáo lại là Tôn Giáo cấp thấp. Tôn Giáo cao cấp chỉ có một thần, một vị chân thần, trong Phật Giáo thờ Phật, Bồ Tát quá nhiều, người ta nghĩ các Ngài đều là thần, nên gọi Phật Giáo là phiếm thần giáo, hoặc đa thần giáo.

Phiếm thần giáo, đa thần giáo là Tôn Giáo cấp thấp. Tứ chúng đệ tử chúng ta ngày nay đều có nghĩa vụ giảng rõ ràng, rành rẽ chuyện này cho xã hội.

Cả đời Thích Ca Mâu Ni Phật là giáo dục, nói theo cách bây giờ là văn hóa xã hội giáo dục đa nguyên, giáo dục trọn khắp thế gian, có thể mang lại an định, hòa bình cho xã hội, có thể mang lại hạnh phúc mỹ mãn cho hết thảy chúng sanh, là giáo dục luân lý, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả, những điều ấy đều được gồm trong Phật Giáo.

Một số ít học giả, chuyên gia lại mong muốn tiến cao hơn, trong Kinh Phật có giáo dục triết học và giáo dục khoa học, đều giảng đến mức viên mãn rốt ráo.

Ngày nay, kẻ khác nói Phật Giáo là Tôn Giáo, chúng ta cũng chẳng thể không thừa nhận, nó đã thật sự biến thành Tôn Giáo. Chúng ta đi theo con đường này là đi theo con đường giáo dục của Thích Ca Mâu Ni Phật.

***